Ghép tế bào gốc là gì? Khi nào cần ghép và hành trình từ người hiến đến ngày hồi phục

Bạn đang xem chuyên mục Y Học Thường Thức | Theo dõi Phòng khám đa khoa Olympia trên Facebook | Tiktok | Youtube

Trên giá treo, một túi dịch nhỏ giọt chậm xuống đường truyền tĩnh mạch. Nhìn từ ngoài cửa phòng, chẳng khác gì một đợt truyền dịch thông thường. Nhưng với người bệnh máu đang nằm đó, những tế bào trong túi sẽ phải tự tìm đường về tủy xương và dựng lại cả hệ thống sinh ra máu của họ.

Một thủ thuật nghe nhẹ nhàng như vậy, vì sao lại kéo theo nhiều tuần chuẩn bị và nằm viện? Vì sao có người dùng chính tế bào của mình, còn người khác phải chờ một người hiến chưa từng gặp? Và vì sao hai chữ “tế bào gốc” lúc thì là phương pháp điều trị đã có chỉ định rõ ràng, lúc lại xuất hiện trong quảng cáo trị bại não hay thoái hóa khớp?

Hãy cùng tách điều y học đã chứng minh khỏi điều vẫn còn là dấu hỏi.

Đọc nhanh trong 30 giây
  • Trong điều trị bệnh máu, “ghép tế bào gốc” thường là ghép tế bào gốc tạo máu: tế bào được truyền qua tĩnh mạch để phục hồi hệ tạo máu và hệ miễn dịch.
  • Có hai hướng chính: tự thân (dùng tế bào của chính người bệnh) và đồng loài (dùng tế bào của người hiến, cần hòa hợp HLA).
  • Rủi ro cần nói rõ: nhiễm trùng, bệnh mảnh ghép chống chủ (GVHD), chậm mọc mảnh ghép và tái phát bệnh.
  • Ngoài bệnh máu, nhiều ứng dụng tế bào gốc (thần kinh, khớp, da) vẫn chủ yếu ở giai đoạn nghiên cứu. Hãy hỏi kỹ bằng chứng trước khi quyết định.
Về phạm vi của bài viết

Bài tổng hợp từ các nguồn chuyên môn nêu ở cuối bài, thông tin cập nhật đến 30/10/2026. Bài không thay thế chẩn đoán hay chỉ định của bác sĩ huyết học. Các mức chi phí là ước tính tham khảo của các cơ sở khác, không phải bảng giá của Olympia.

Tế bào gốc là gì, và “ghép tế bào gốc” thật ra là ghép loại nào?

Tế bào gốc tạo máu là những tế bào có khả năng tự tái tạo và biệt hóa thành hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu (theo Bệnh viện Nhi Trung ương). Khi tủy xương bị bệnh, hoặc bị tổn thương bởi hóa trị, xạ trị liều cao, việc ghép loại tế bào này nhằm thay thế hoặc phục hồi hệ tạo máu và hệ miễn dịch.

Nhiều người gọi thủ thuật này là “ghép tủy”, và cách gọi ấy có lý do lịch sử. Hiện nay tế bào gốc có thể lấy từ tủy xương, máu ngoại vi hoặc máu dây rốn, nên tên gọi chuyên môn là ghép tế bào gốc tạo máu.

Bạn có biết?

Ghép tế bào gốc không phải là phẫu thuật theo nghĩa thông thường. Tế bào được truyền qua tĩnh mạch, tương tự truyền máu, rồi tự di chuyển về tủy xương để tăng sinh (Bệnh viện Nhi Trung ương).

Đã có chỉ định rõ ràng

Ghép tế bào gốc tạo máu

Dùng cho bệnh máu ác tính và không ác tính, một số bệnh suy giảm miễn dịch và di truyền. Bệnh viện Tâm Anh gọi đây là phương pháp điều trị tiêu chuẩn; Vinmec mô tả đây là ứng dụng tế bào gốc được dùng rộng rãi nhất.

Phần lớn còn đang nghiên cứu

Tế bào gốc cho tái tạo mô, thần kinh, da, xương

Gồm tế bào gốc trung mô, tế bào gốc đa năng cảm ứng (iPSC), exosome… Vinmec nhận định iPSC “chưa được ứng dụng rộng rãi” do liên quan đến kiểm soát chất lượng.

FDA (Mỹ) cũng lưu ý rằng, trong nhóm sản phẩm tế bào gốc được quảng bá rộng rãi, hiện chỉ có các sản phẩm tế bào tiền thân tạo máu từ máu dây rốn được phê duyệt, và chỉ cho bệnh lý của hệ tạo máu (cập nhật 08/04/2024).

Ghép tế bào gốc được dùng để điều trị những bệnh nào?

Không phải ai có bất thường về máu cũng cần ghép. Theo Bệnh viện Phenikaa, chỉ định phải dựa trên đánh giá toàn diện của bác sĩ chuyên khoa. Các nhóm bệnh thường được nhắc đến gồm:

Nhóm bệnhVí dụ theo các nguồn đã đọc
Bệnh máu ác tínhBạch cầu cấp, u lympho, đa u tủy xương, hội chứng rối loạn sinh tủy.
Bệnh máu không ác tínhSuy tủy xương (mắc phải hoặc bẩm sinh), thalassemia thể nặng, thiếu máu Fanconi, bệnh hồng cầu hình liềm.
Bệnh miễn dịch, di truyềnSuy giảm miễn dịch bẩm sinh nặng, hội chứng Wiskott–Aldrich, một số rối loạn chuyển hóa bẩm sinh.
Một số u đặc ở trẻ emU nguyên bào thần kinh nguy cơ cao (thường dùng ghép tự thân).

Một câu hỏi các gia đình hay đặt ra: ghép sớm hay ghép muộn có khác nhau không? Theo Bệnh viện Nhi Trung ương, ghép sớm, trước khi có nhiễm trùng nặng hoặc tổn thương cơ quan, thường cho kết quả tốt hơn.

Nếu bạn hoặc người thân vừa có kết quả công thức máu bất thường, bước hợp lý là mang kết quả đến bác sĩ để được đánh giá; bạn có thể tra cứu các xét nghiệm tại trang Xét nghiệm của Olympia. Với người đang tìm hiểu thuốc điều trị bệnh bạch cầu cấp dòng tủy, Olympia có bài viết về Venetoclax.

Tế bào gốc được lấy từ đâu: tủy xương, máu ngoại vi hay máu dây rốn?

Tủy xương

Lấy trực tiếp từ xương chậu trong điều kiện vô khuẩn và gây mê. Bệnh viện Nhi Trung ương nêu ưu điểm là đã được dùng nhiều, nguy cơ bệnh ghép chống chủ mạn có thể thấp hơn.

Máu ngoại vi

Dùng thuốc đưa tế bào gốc từ tủy ra máu, rồi thu bằng máy gạn tách. Thu được nhiều tế bào, mọc ghép thường nhanh hơn, nhưng nguy cơ bệnh ghép chống chủ cao hơn trong ghép đồng loài.

Máu dây rốn

Thu từ dây rốn và bánh rau lúc sinh, có thể lưu trữ. Tế bào miễn dịch còn non nên yêu cầu hòa hợp HLA linh hoạt hơn, nhưng số lượng tế bào thường thấp, hạn chế với trẻ lớn hoặc người nặng cân.

Ba nguồn tế bào gốc tạo máu: tủy xương, máu ngoại vi và máu dây rốn
Ba nguồn tế bào gốc tạo máu (bấm vào ảnh để phóng to)

Ghép tự thân hay đồng loài: tế bào “của mình” khác tế bào “của người” ở đâu?

Tiêu chíGhép tự thânGhép đồng loài
Nguồn tế bàoChính người bệnh, thu và đông lạnh trước khi điều trị liều caoNgười hiến: anh/chị/em ruột, người không cùng huyết thống, người nửa hòa hợp hoặc máu dây rốn
Cần tìm người hiến?KhôngCó, cần xét nghiệm HLA
Bệnh mảnh ghép chống chủ (GVHD)Hầu như không xảy raCó thể xảy ra
Hiệu ứng miễn dịch chống tế bào bệnhKhông có từ người hiếnCó thể có
Điểm cần lưu ýCó nguy cơ tế bào bệnh sót lại trong sản phẩm truyềnNguy cơ biến chứng miễn dịch
Thường gặp ởĐa u tủy xương, một số lymphoma; ở trẻ em: u nguyên bào thần kinh nguy cơ caoChỉ định rộng hơn, kể cả bệnh không ác tính
So sánh ghép tế bào gốc tự thân và đồng loài, kèm các kiểu người hiến
Tự thân và đồng loài: các bước chính và kiểu người hiến (bấm vào ảnh để phóng to)
Bạn có biết?

Chỉ khoảng 1/4 người bệnh có anh/chị/em ruột hòa hợp HLA hoàn toàn (MSD Manuals). Chương trình hiến tủy của Singapore, được Bệnh viện Mount Elizabeth dẫn lại, cho biết khoảng 70% người cần ghép không có người hiến hòa hợp hoàn toàn trong gia đình. Vì vậy, người hiến không cùng huyết thống, người nửa hòa hợp và máu dây rốn là những nguồn thay thế được sử dụng.

Nửa hòa hợp (haploidentical) là khi người hiến, thường là cha mẹ hoặc con, hòa hợp khoảng 50%. Ghép giữa hai anh/chị/em song sinh cùng trứng (syngeneic) cho mức hòa hợp 100%. Bệnh viện Nhi Trung ương mô tả kỹ thuật tách tế bào bằng từ tính ngoài cơ thể cho ghép nửa hòa hợp, và cho biết đây là kỹ thuật tiên phong trong cả nước.

Một ca ghép diễn ra thế nào, từng bước một?

Phác đồ và thời gian khác nhau tùy từng người bệnh, nhưng trình tự chung thường như sau.

1
Đánh giá trước ghép

Kiểm tra bệnh nền, chức năng tim, phổi, gan, thận và tình trạng nhiễm trùng. Với ghép đồng loài, xét nghiệm HLA để tìm người hiến (Bệnh viện Phenikaa, Mount Elizabeth).

2
Thu thập tế bàovài ngày

Với máu ngoại vi, dùng thuốc đưa tế bào gốc ra máu trong khoảng 4 đến 7 ngày (các nguồn nêu 4–5, 4–6 và 5–7 ngày), rồi gạn tách. Với tủy xương, tế bào được lấy dưới gây mê. Tế bào có thể được đông lạnh bảo quản.

3
Điều kiện hóakhoảng 1 tuần

Hóa trị, có thể kèm xạ trị, nhằm kiểm soát bệnh, tạo chỗ cho tế bào ghép và ức chế miễn dịch. Bệnh viện Tâm Anh nêu 5–10 ngày, Mount Elizabeth nêu khoảng một tuần. Cường độ phác đồ được chọn theo tuổi, bệnh nền và loại bệnh (MSD Manuals).

4
Truyền tế bào gốc

Tế bào được truyền qua tĩnh mạch, có thể qua catheter tĩnh mạch trung tâm. Nhân viên y tế theo dõi các phản ứng khi truyền như sốt, tụt huyết áp, nổi mề đay (Vinmec).

5
Chờ mọc mảnh ghép10–28 ngày

MSD Manuals nêu thường sau 10–20 ngày, xác định khi bạch cầu trung tính tuyệt đối trên 500/mcL; Vinmec và Mount Elizabeth nêu 2–4 tuần. Trong giai đoạn này nguy cơ nhiễm trùng cao nên người bệnh được chăm sóc trong môi trường vô khuẩn.

6
Hồi phục và theo dõi

Nằm viện khoảng 3 tuần đến 1 tháng (Tâm Anh, Vinmec). Theo Mount Elizabeth, 100 ngày đầu được theo dõi sát, còn hệ miễn dịch cần từ vài tháng đến hơn một năm để hồi phục.

Minh họa hành trình ghép tế bào gốc từ thu thập, điều kiện hóa, truyền đến mọc mảnh ghép
Hành trình một ca ghép tế bào gốc (bấm vào ảnh để phóng to)

Một chi tiết ít người biết: với một số trường hợp ghép tự thân, Vinmec mô tả người bệnh có thể được theo dõi ngoại trú nếu không có bệnh nặng khác, có người chăm sóc ở nhà và sống trong khoảng 1 giờ di chuyển tới bệnh viện. Điều kiện này do bác sĩ điều trị quyết định.

Sau ghép có thể gặp những rủi ro nào?

Đây là phần cần đọc bình tĩnh. Các con số dưới đây là tỷ lệ chung từ tài liệu chuyên môn, nguy cơ của từng người phụ thuộc bệnh, tuổi, loại người hiến và phác đồ.

Nhiễm trùng

Hệ miễn dịch suy yếu sau điều kiện hóa, nguy cơ tăng nhất sau ghép đồng loài (MSD Manuals). Vì vậy người bệnh được chăm sóc trong môi trường vô khuẩn, người thăm phải đeo khẩu trang.

Bệnh mảnh ghép chống chủ (GVHD)

Tế bào miễn dịch của người hiến tấn công cơ thể người nhận. MSD Manuals nêu GVHD cấp khoảng 40% khi hiến từ anh/chị/em hòa hợp và khoảng 80% khi người hiến không cùng huyết thống; Bệnh viện Tâm Anh nêu khoảng 30–70%. Biểu hiện gồm phát ban, ngứa, tiêu chảy, viêm gan vàng da.

Thất bại hoặc chậm mọc mảnh ghép

Theo MSD Manuals, ghép thất bại hoặc thải ghép xảy ra ở dưới 5% người bệnh, biểu hiện là giảm các dòng tế bào máu kéo dài.

Độc tính điều kiện hóa và tái phát

Mệt mỏi, buồn nôn, tổn thương niêm mạc, gan, phổi. Hiếm hơn có thể gặp vô sinh sau xạ toàn thân hoặc đục thủy tinh thể. Bệnh có thể tái phát, kể cả muộn (Tâm Anh, MSD Manuals).

Điều hay bị hiểu nhầm

Một kết quả ghép tốt không có nghĩa là không cần theo dõi nữa. GVHD mạn tính thường xuất hiện từ 2 tháng đến 2 năm sau ghép, và người bệnh cần tái khám dài hạn theo hướng dẫn của đội ngũ ghép.

Ghép tế bào gốc “thành công” bao nhiêu phần trăm?

Đây thường là câu hỏi đầu tiên của người nhà, và cũng là câu khó trả lời nhất bằng một con số duy nhất. Kết quả phụ thuộc vào bệnh, giai đoạn bệnh, tuổi, thể trạng, loại ghép và mức độ hòa hợp của người hiến.

Chính các nguồn trong nước cũng khác nhau về mức độ công bố. Bài của Bệnh viện Nhi Trung ương không đưa tỷ lệ sống hay tỷ lệ thành công. Bài của Bệnh viện Tâm Anh nêu sống còn toàn bộ sau 3 năm ở ghép đồng loài là 83% với bệnh lành tính và 47% với bệnh ác tính, nhưng không dẫn nghiên cứu gốc. Chỉ riêng chênh lệch giữa hai con số này đã cho thấy vì sao một con số trung bình dễ gây hiểu nhầm.

Ba câu nên hỏi bác sĩ ghép

1) Với đúng bệnh, giai đoạn và độ tuổi của tôi, tỷ lệ sống không bệnh sau 2–3 năm tại trung tâm là bao nhiêu? 2) Con số ấy dựa trên bao nhiêu ca? 3) Nếu không ghép, các lựa chọn còn lại và kết quả kỳ vọng ra sao?

Chi phí ghép tế bào gốc tại Việt Nam khoảng bao nhiêu?

Các bài của Bệnh viện Tâm Anh (cập nhật 28/12/2024), Bệnh viện Phenikaa và Medpro (đăng tháng 10/2026) cho các mức ước tính khá tương đồng. Đơn vị: triệu đồng, chỉ mang tính tham khảo.

Loại ghépTâm AnhPhenikaaMedpro
Tự thân100 – 200100 – 200100 – 200
Đồng loài, cùng huyết thống, hòa hợp HLA400 – 600400 – 600400 – 600
Nửa hòa hợp600 – 700600 – 700Không nêu
Máu dây rốn600 đến dưới 900600 – 800Không nêu
Nửa hòa hợp kèm máu dây rốn1.000 – 1.200Không nêuKhông nêu

Các bài đều lưu ý chi phí thay đổi theo xét nghiệm, phác đồ, thuốc, chế phẩm máu và số ngày nằm viện; riêng Phenikaa cho biết bảo hiểm y tế chỉ thanh toán một phần theo quy định. Hãy xin báo giá trực tiếp từ cơ sở điều trị.

Ghép tế bào gốc tạo máu cần cơ sở chuyên biệt và đội ngũ được đào tạo sâu (Bệnh viện Nhi Trung ương). Theo các bài đã đọc, một số đơn vị tại Việt Nam có khoa hoặc trung tâm ghép gồm Bệnh viện Truyền máu Huyết học TP.HCM (ca ghép tế bào gốc tạo máu đầu tiên năm 1995, theo Medpro), Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, Bệnh viện Nhi Trung ương (ca ghép tủy đầu tiên năm 2006) và Bệnh viện Đại học Phenikaa.

Tế bào gốc có chữa được bại não, đột quỵ, thoái hóa khớp không?

Đây là phần nhiều người tìm kiếm nhất, và cũng là phần dễ bị cuốn theo lời quảng cáo nhất. Ngày 02/10/2026, Vinmec đăng bài giới thiệu cấy ghép tế bào gốc cho bại não. Bài mô tả dùng tế bào gốc trung mô từ mô mỡ hoặc dây rốn, hoặc tế bào tủy xương tự thân, đưa vào cơ thể qua đường tủy sống; đối tượng chủ yếu là trẻ em có mức vận động GMFCS từ 2 đến 5. Bài nêu phương pháp “có tỷ lệ thành công cao”, đồng thời liệt kê rủi ro như nhiễm trùng thần kinh, nhiễm trùng máu, rối loạn nhịp tim và suy hô hấp.

Điều đáng lưu ý là trang này không kèm số liệu, cỡ mẫu hay nghiên cứu dẫn chứng cho nhận định “thành công cao”. Điều đó không có nghĩa là hướng đi này không có tiềm năng. Nhưng giữa “có thể” và “đã được chứng minh” là một khoảng cách cần nhìn rõ.

Tín hiệu từ nghiên cứu

Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết đang nghiên cứu ghép tự thân tế bào gốc tạo máu và trung mô cho một số bệnh, trong đó có bại não. Vinmec dẫn một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trên 20 bệnh nhân gãy góc hàm, mật độ xương cao hơn 36,48% sau 12 tuần. Đó là tín hiệu thú vị, nhưng cỡ mẫu còn nhỏ.

Cảnh báo từ cơ quan quản lý

FDA cho biết các sản phẩm tế bào gốc chưa được phê duyệt cho bệnh thần kinh (đa xơ cứng, ALS, Alzheimer, Parkinson, động kinh, đột quỵ), bệnh tim phổi và bệnh chỉnh hình (thoái hóa khớp, đau lưng). FDA đã nhận báo cáo về mù lòa, hình thành khối u và nhiễm trùng, và chỉ cho phép dùng hợp pháp trong thử nghiệm lâm sàng có giám sát.

FDA là cơ quan của Hoa Kỳ; tại Việt Nam, việc cấp phép kỹ thuật do Bộ Y tế quy định. Vì vậy trước khi trả tiền cho bất kỳ liệu pháp tế bào gốc nào ngoài bệnh máu, hãy hỏi cơ sở về hồ sơ cấp phép kỹ thuật và hồ sơ nghiên cứu. Hiệp hội Nghiên cứu Tế bào gốc Quốc tế (ISSCR) gợi ý những câu hỏi sau; bấm vào từng dòng để đánh dấu những câu bạn đã hỏi:

Về liệu pháp
Về bằng chứng và giám sát
Về an toàn
Về chi phí
Gia đình trao đổi với bác sĩ về bằng chứng khoa học của liệu pháp tế bào gốc
Hỏi kỹ bằng chứng trước khi quyết định (bấm vào ảnh để phóng to)

Góc chuyên môn: vì sao ghép đồng loài vừa cần vừa khó

Mấu chốt của ghép đồng loài là hòa hợp HLA: hệ HLA giúp cơ thể phân biệt “của mình” và “của lạ”. Hòa hợp càng cao, nguy cơ GVHD càng thấp. MSD Manuals nêu các yếu tố làm tăng nguy cơ GVHD cấp gồm không hòa hợp HLA, người hiến không cùng huyết thống và tuổi cao.

Phác đồ điều kiện hóa có ba mức cường độ: diệt tủy, giảm cường độ và không diệt tủy. Mức nhẹ hơn phù hợp người lớn tuổi hoặc có bệnh đi kèm, vì giảm độc tính, và có thể dựa nhiều hơn vào hiệu ứng ghép chống khối u của tế bào người hiến.

Đây cũng là thế giằng co quen thuộc: loại bỏ tế bào T khỏi mảnh ghép làm giảm GVHD nhưng cũng làm giảm hiệu ứng chống khối u và tăng nguy cơ tái phát. Với máu dây rốn, tế bào T còn “ngây thơ” nhiều hơn, kèm nguy cơ tái hoạt cytomegalovirus (CMV) hoặc nhiễm EBV (MSD Manuals). Tất cả cho thấy chọn nguồn tế bào và người hiến là một quyết định chuyên khoa, cân giữa lợi ích và rủi ro cho từng người bệnh.

Những câu hỏi thường gặp về ghép tế bào gốc

Trong điều trị bệnh máu, hai cách gọi thường chỉ cùng một nhóm kỹ thuật. Ngày nay tế bào gốc tạo máu có thể lấy từ tủy xương, máu ngoại vi hoặc máu dây rốn, nên “ghép tế bào gốc tạo máu” là tên gọi bao quát hơn.

Bước truyền tế bào không phải phẫu thuật, tương tự truyền máu. Lấy tế bào từ tủy xương cần gây mê. Các khó chịu thường đến từ phác đồ điều kiện hóa và phản ứng khi truyền như đau đầu, buồn nôn, sốt (Vinmec); mức độ khác nhau ở từng người.

Theo Mount Elizabeth, với máu ngoại vi, người hiến tiêm thuốc kích thích tạo tế bào gốc mỗi ngày trong 5–7 ngày rồi tách tế bào từ máu. Với tủy xương, tế bào được lấy dưới gây mê tại phòng mổ. Người hiến là thân nhân được khám sức khỏe tổng quát trước đó.

Có. Bệnh viện Nhi Trung ương liệt kê nhiều chỉ định ở trẻ em, từ bạch cầu cấp nguy cơ cao, suy tủy, thalassemia thể nặng đến suy giảm miễn dịch bẩm sinh. Nếu bé có các bệnh thường gặp khác, bạn có thể tham khảo bài top 5 bệnh thường gặp ở trẻ em và khoa Nhi của Olympia.

Máu dây rốn có thể được thu lúc sinh và lưu trữ. Tuy nhiên, Bệnh viện Nhi Trung ương lưu ý số lượng tế bào thường thấp, hạn chế khi dùng cho trẻ lớn hoặc người nặng cân. Quyết định lưu hay không nên được cân nhắc cùng bác sĩ sản khoa và bác sĩ nhi.

Không có câu trả lời chung cho mọi bệnh. Một số người bệnh được kiểm soát bệnh lâu dài, nhưng bệnh có thể tái phát, kể cả muộn, và cần theo dõi dài hạn. Hãy hỏi đội ngũ ghép về kỳ vọng cụ thể cho bệnh của bạn.

Theo Bệnh viện Phenikaa, bảo hiểm y tế chỉ thanh toán một phần theo quy định; Medpro nêu có thể hỗ trợ một phần tại cơ sở công lập. Mức chi trả cụ thể cần hỏi trực tiếp cơ sở điều trị và cơ quan bảo hiểm.

Có thể bạn quan tâm

Nguồn tham khảo

+

Tư vấn chuyên môn: BS. CKII. Lê Hữu Đồng, Phòng khám Đa khoa Olympia.

Bạn còn câu hỏi về ghép tế bào gốc?

Chọn một câu gợi ý, sao chép rồi gửi cho Olympia qua Messenger hoặc Zalo. Bạn cũng có thể tự viết câu hỏi của riêng mình.

Kết quả công thức máu của tôi có bất thường, bước tiếp theo tôi nên làm gì?
Người thân được bác sĩ nhắc đến ghép tế bào gốc, gia đình cần chuẩn bị hồ sơ và hỏi bác sĩ những gì?
Con tôi được chẩn đoán bệnh về máu, tôi nên hỏi gì để hiểu các lựa chọn điều trị?
Có nơi mời tôi dùng tế bào gốc để điều trị, làm sao kiểm tra độ tin cậy trước khi quyết định?

Vui lòng không gửi giấy tờ tùy thân hoặc thông tin nhạy cảm trong tin nhắn đầu tiên. Bác sĩ sẽ hướng dẫn bước tiếp theo.

Đăng nhập để tiếp tục

Đăng nhập tài khoản Olympia để sử dụng chức năng này.

Đăng nhập bằng tài khoản